Con nghê đá cổ


Trong những thế kỷ Bắc thuộc, khi người Trung Hoa làm đủ mọi cách để hủy diệt văn hoá Việt Nam, như tịch thu, hủy diệt và cấm làm trống đồng, bắt người Việt đổi theo họ Tầu (vì thế những họ cổ Việt Nam như họ Thi (Thi Sách), họ Trưng (Trưng Trắc)… không còn nữa….), thì không biết ông cha ta có làm hình tượng Chó đá và Nghê đá không? Quan sát cách sinh hoạt của người thượng trên các miền cao nguyên, ta thấy rằng con chó vẫn là con vật rất quan trọng của đời sống thôn dã. Vậy thì ai có thể quả quyết rằng, chó đá, con Nghê không được phát sinh từ thời xa xưa? Tuy nhiên chúng tôi cũng chưa có dịp may mắn được thấy các hình ảnh hay vật tích hình con Nghê đá cổ của thời đại cổ xưa này. Ước rằng có người với những phương tiện đầy đủ sẽ làm các việc khai quật nghiên cứu và tìm ra di tích con Nghê từ thời xa xưa.
 
 
con nghê đá cổ
 
Con nghê đá cổ
 
 
Sau khi Ngô Quyền khởi lại thời tự chủ, sau khi Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn tổ chức lại trật tự trên đất nước ta, nhà Lý, nhà Trần, rồi nhà Lê nối ngôi dựng lại nền văn hóa thuần Việt rực rỡ, phong phú. Bắt đầu từ Lý Thái Tổ dời kinh đô từ Hoa Lư về Thăng Long, người Việt bừng lên khí thế dân tộc. Giống như thời Hùng Vương thuở trước, từ đây cùng văn học, xã hội, chính trị, nghệ thuật tạo hình của người Việt phát triển rực rỡ, phối hợp bản chất dân tộc với ảnh hưởng Trung Hoa và Ấn Độ, tạo nên một nền văn hóa thuần Việt, song song và biệt lập với văn hóa Trung Hoa.
 
Trong bối cảnh văn hoá rực rỡ ấy, với sự nẩy nở của những nghệ phẩm, tác phẩm Việt Nam, sự phát triển của kiến trúc đình chùa, sự phát triển của giới quý tộc, trưởng giả càng đòi hỏi nhiều hơn nữa những phẩm vật tế tự, sinh hoạt và trưng bày. Khung cảnh và nhu cầu này đưa đến biết bao phát triển của nghệ thuật tạo hình. Nhu cầu tinh thần, nhu cầu vật chất được đáp ứng bởi bàn tay, khối óc của các nghệ nhân Việt lúc nào cũng xông xáo sáng tạo. Biết bao kiến trúc, cung điện, đình chùa mới mái cong thuần túy Việt được dựng lên. Đồ gốm Việt Nam bừng lên tổng hợp kỹ thuật và sắc men Trung Hoa với dạng thức, nét vẽ, và phong cách hoàn toàn Việt Nam. Từ đây những bình, ấm, tô, chén đĩa… những món đồ Lý Trắng, Lý Nâu, Lý Lục, Lý Đen, những món đồ men ngọc, chuyển qua những món men trắng hoa chàm của đời Trần, đời Lê tuyệt vời, được sản xuất mạnh mẽ; Rồi tiếp theo đó, sang thế kỷ XIV, XV, XVI là thời của gốm Chu Đậu, thời tuyệt đỉnh của đồ gốm Việt Nam, với biết bao phẩm vật xuất cảng sang vùng Ba Tư, Nam Dương, Phi uật Tân, Nhật Bản… 
 
Dựa trên số lượng và phẩm tính của những con Nghê trong các viện bảo tàng và bộ sưu tập của các tư nhân, ta thấy rằng thời thịnh đạt nhất của con Nghê là từ đời Lý cho đến cuối đời Tây Sơn (thế kỷ XI đến thế kỷ XVIII). Suốt từ đời Lý, con Nghê được trọng dụng ở khắp mọi nơi, từ những ngôi nhà dân dã, từ cung đình, cho đến lâu đài, đình chùa, lăng miếu… Đến cuối đời Lê, loạn Trịnh - Nguyễn phân tranh, đất nước đi vào 300 năm khói lửa, nhưng không vì thế mà văn hoá Việt điêu tàn, mà trái lại càng phát triển mạnh thêm về mọi mặt (thơ văn, kiến trúc, khắc gỗ, gốm sứ…). Trong suốt 8 thế kỷ này, các bình hương trầm, các nậm rượu, và các tượng hình con Nghê là những món không thể thiếu ở nơi tế tự, ở các nhà trưởng giả cho đến nhà bình dân. 
 
 
con nghê đá thời lý
 
Con nghê đá thời lý
 
 
Khi Nguyễn Ánh thống nhất sơn hà, triều đình nhà Nguyễn - có lẽ do mặc cảm, do lòng thù ghét các dấu vết văn hóa của đất Bắc, của nhà Trịnh, nhà Tây Sơn - đã quay lưng lại văn hóa Việt nam mà ưa chuộng văn hóa Trung Hoa. Thế cho nên con rồng Việt Nam uyển chuyển của đời Lý Trần Lê, đã bị thay bằng con rồng Tầu thân mập vẩy to, mặt ngắn. Thế nên thành Thăng Long bị phá đi xây lại nhỏ hơn và biết bao cung điện đời trước (còn lại sau những năm dài chinh chiến) đã bị triều đình nhà Nguyễn cho phá đi. Thế nên, dù đang trong tình trạng chật vật cạnh tranh với đồ gốm Tầu trên thị trường quốc tế, cả một kỹ nghệ đồ gốm Việt nam đã không được triều đình nâng đỡ. Thay vào đó các món đồ dùng trong cung đình Huế được đặt làm từ các lò gốm ở bên Tầu. Thế nên cả làng Chu Đậu (Hải Dương) phải bỏ nghề gốm mà chuyển qua nghề dệt chiếu (một số nhỏ đã dọn đến Bát Tràng tiếp tục nghề cũ, trong phạm vi rất nhỏ hẹp so với Chu Đậu). Trong các cung điện ở Huế, con Nghê không được dùng, vì đã bị con Lân của Tầu thay thế. Các lư trầm bằng đồng với hình tượng con Lân trên nắp trở nên phổ thông. Các nhà trưởng giả đua theo triều đình chuộng các linh tượng Trung Hoa. Kỹ nghệ đồ gốm tàn lụi, con Nghê chỉ còn sót lại trong những bàn thờ cổ ở chốn thôn dã miền Bắc. Đau đớn thay là tinh thần nô lệ Bắc phương!
 
Hãy đi đến các ngôi chùa, các kiến trúc ở Việt Nam làm từ thế kỷ XIX, ta thấy ngay rằng, con rồng Việt đã biến đổi, con Nghê đã bị thay bằng con Lân, chim Hạc chỉ còn là biểu tượng xưa cũ. (Kiến trúc Việt Nam đăc biệt ở chỗ có mái cong - trong khi kiến trúc Trung Hoa có mái thẳng - thế nhưng cung điện ở Huế và các đình làng làm từ thế kỷ XIX (từ Quảng Trị vào miền Nam) chỉ có mái thẳng, trang trí bằng hình con Lân hay Tứ linh - long, ly, quy, phụng - hay hình con hổ.)
 
Thương thay, các biểu tượng thuần Việt, các nét tạo hình thuần Việt không còn được người Việt biết đến nữa. Rồi người ta rủ nhau về nguồn băng cách quơ quíu những hình ảnh, biểu tượng của văn hóa Trung Hoa hay Nhật Bản, còn bụt chùa nhà thì bỏ lăn lóc.
 
Đến thăm các trung tâm văn hóa Việt Nam ở Mỹ, đi dự các buổi lễ hội do những cộng đồng người Việt tổ chức, ta thấy họ hãnh diện trưng bày các tranh ảnh, phông cảnh vẽ cảnh sinh hoạt đình chùa ở thôn làng Việt Nam; Nhưng hỡi ơi, mái đình, mái chùa vẫn cứ là mái thẳng, trông như lịch Tầu, vẫn thấy vẽ con Lân Tầu, con Rồng Tầu.
 
Ôi văn hóa ông cha đâu rồi, những người lớn tuổi còn sơ sót như vậy, thì làm sao mà dạy thế hệ trẻ đây? Rồi khi đi qua cửa các nhà giàu có ở Hoa Kỳ, ta vẫn thấy chủ nhà hãnh diện bầy hai con Lân hai bên cửa, cứ như là chùa Tầu. Ở các lò gốm bên Việt Nam, ở Non Nước, Hội An (Đà Nẵng), các nhà khắc chạm cẩm thạch, đâu đâu cũng chỉ sản xuất toàn con Lân mà không có con Nghê. Buồn thay!
 
Chúng tôi ước ao rằng các họa sĩ Việt hãy vẽ mái đình cong, với hình tượng con Nghê trên đầu đao, các nhà làm đồ gốm Việt Nam sẽ làm lại tượng con Nghê, bình hương trầm con Nghê, để tất cả chúng ta còn hãnh diện nối theo dòng văn hóa Việt Nam của ông cha thuở trước.

Đối tác